Nhãn

Thứ Hai, 19 tháng 12, 2011

Ngắm những cây cảnh 'độc nhất vô nhị' VN

Những cây cảnh "đại khủng triệu đô" đã làm nên một triển lãm cây cảnh độc nhất vô nhị từ trước đến nay.

Lần đầu tiên trong lịch sử làng chơi cây cảnh Việt Nam, những cây cảnh “chỉ có trong huyền thoại” đã quần tụ tại Triển lãm cây cảnh chào mừng Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội. Người xem mãn nhãn với cơ hội ngàn năm có một để mục sở thị những tuyệt tác “không bút nào tả xiết”.

Hàng ngàn cây cảnh nghệ thuật từ khắp các mọi miền đất nước đã có mặt trong Đại lễ ngàn năm. Ngày hôm nay, 06/10, mới là ngày BTC mở cửa đón khách tham quan, thế nhưng, hàng ngàn lượt người đã “tranh thủ” tìm mọi cách để… ghé mắt dòm từ ngày 5/10.

Những cây cảnh “siêu khủng” được giới chơi cây định giá nhiều triệu đô khiến người xem phải… choáng. Đương nhiên, với giá trị tài chính tầm đó, những “tuyệt tác” trên, chỉ để… ngắm, và các chủ sở hữu, có lẽ phải dùng… bao tải để đựng tiền, nếu như có ý định chuyển nhượng.
Mô tả ảnh.
"Chung một cội nguồn"

Mô tả ảnh.
"Cửu long tranh châu".

Mô tả ảnh.
"Long cuốn thủy"

Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.
Người xem ngợp giữa vườn cây độc nhất vô nhị.

Mô tả ảnh.
"Cổ - kỳ - mĩ - văn".

Mô tả ảnh.
Siêu cây "Mâm xôi con gà"
Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.
Những tác phẩm chỉ có từ ý tưởng sáng tạo.
Mô tả ảnh.
Phối cảnh Khuê Văn Các dưới gốc cây đại thụ.
Những tuyệt phẩm bằng gỗ lũa, đá... cũng có mặt để làm nên một quần thể sinh vật cảnh chưa từng có. Người xem như bị lạc giữa "mê hồn trận" ngày hội của sự sáng tạo và tài hoa đất Việt.  
Mô tả ảnh.
Cổng trời?
Mô tả ảnh.
"Rồng thời Lý"  - tác phẩm gỗ lũa của Bà Rịa - Vũng Tàu.

Mô tả ảnh.Mô tả ảnh.
Lũa hình Rồng.

Mô tả ảnh.
Tác phẩm đá "Chim Việt"

Mô tả ảnh.
Bộ lũa hình... nấm hay hình cây cổ thụ?!.
Mô tả ảnh.
Những tuyệt phẩm chỉ để... ngắm!

Ngắm 'cây' trầm hương độc nhất vô nhị

 Cây gió bầu hai thân có trầm hương đang triển lãm tại Bảo tàng Hà Nội khiến hàng ngàn người phải dừng lại chiêm ngưỡng…
Cây trầm hương kỷ lục
Cây gió bầu có trầm hương với kích thước kỷ lục từ trước đến nay: cao 6.8 mét, đường kính 1m33, một người ôm không hết, hai thân chung một gốc và dính với nhau. Chủ nhân của nó, “vua kỳ nam” đất Phú Yên, ông Võ Hiệp chế tác thành một tác phẩm nghệ thuật, mà theo ông, đó là biểu tượng Bắc – Nam chung một cội nguồn.

Trên hai thân mọc song song với nhau, ông Hiệp đã chế tác thành các “mắt” hình giọt nước chạy từ gốc cây lên đến ngọn. Có hàng trăm những “con mắt” phân bổ dọc hai thân cây. Xen kẽ giữa những “mắt” nhân tạo này là những vết bom mà cây bị “dính đạn” thời kỳ chiến tranh.

Ông Hiệp giải thích: những “con mắt” này không chỉ là ý tưởng nghệ thuật. Nó được sơn phủ bằng một lớp keo (hoặc nhựa) viền xung quanh để chống mưa nắng anh hưởng tới trầm hương trong thân cây, vì cây quá lớn nên không thể trưng bày trong nhà mà phải để ngoài trời.

Tuổi đời của cây gió bầu có trầm hương này là khoảng 120 năm, và đã được một gia đình người dân tộc thay nhau bảo vệ qua ba đời liên tiếp.
Sự xuất hiện của cây gió bầu trong suốt Triển lãm sinh vật cảnh chào mừng Đại lễ khiến hàng ngàn người dừng lại thưởng lãm. Tuy nhiên, phải đọc những thông tin về nó trên tấm biển treo dưới gốc cây, khách tham quan mới biết được đây là một cây bầu gió có chứa trầm hương.
Chủ nhân của nó đã rất cẩn trọng trong việc bảo vệ cây: gốc cây được chăng dây để người xem không tiếp cận được sát thân cây, chỉ có thể đứng cách xa cây trong bán kính 1 mét, “không sờ vào hiện vật”.

Mô tả ảnh.
Chiếc phản làm bằng trầm hương.


Ngoài cây bầu gió có trầm khổng lồ này, ông Võ Hiệp còn mang tới triển lãm khoảng chục đoạn gỗ có chứa trầm, mỗi đoạn dài chừng hơn 1 mét, hình thù cổ quái, đường kính gần một ôm tay. Những đoạn gỗ trầm hương này được giới thiệu với khách mức giá không dưới vài chục triệu đồng.

Nhiều người dừng lại xem vì tò mò, được chủ nhân của cây bật lửa đốt những mẩu trầm hương để quảng bá với khách hương trầm thực sự.

Một chiếc giường gỗ được cho biết làm từ gỗ trầm hương cũng được mang tới triển lãm. Theo ông Hiệp, đây là một chiếc giường độc nhất vô nhị bởi chất liệu. Cho nên, tuy không chạm trổ tinh vi, chỉ đơn thuần như một cái phản, song giá trị của nó được giới thiệu lên tới 150 triệu đồng.

Ông Hiệp giải thích: ngày xưa vua chúa thường lấy các mẩu gỗ trầm hương cho vào gối khi nằm ngủ. Hương trầm thẩm thấu qua chiếc gối thấm vào da đầu giúp cho đầu óc anh minh, thư thái, điều tiết các bệnh tật… Tuy nhiên, chưa có vua chúa nào sở hữu một chiếc giường bằng gỗ trầm hương. Vì thế, chiếc giường gỗ trầm này là độc nhất vô nhị từ trước tới nay.

“Vua kỳ nam” đi lượm trầm
Cây gió bầu kỷ lục mà ông Hiệp mang tới tham dự triển lãm nhân dịp Đại lễ được mua lại từ một gia đình người dân tộc tại thị trấn Ba Trúc, huyện Tri Tôn (tỉnh An Giang). Khu vực này tiếp giáp với biên giới Cam Pu Chia.

Mô tả ảnh.
Cây gió bầu hai thân cao 6m80, rộng 1m33 có chưa trầm hương của ông Võ Hiệp.

Chủ nhân đầu tiên của cây gió bầu hai thân có chứa trầm hương là gia đình ông Lê Văn Hẳng. Cách đây vài chục năm, trong một lần phát nương làm rẫy, ông Hẳng phát hiện cây gió bầu hai thân khổng lồ này.

Tuy nhiên, lúc đó, ông Hẳng không biết đó là cây gió bầu có chứa trầm hương. Mãi sau này, khi phong trào đi tìm trầm hương nở rộng tại khu vực các tỉnh Nam Trung Bộ và giá trị của trầm hương sánh với vàng, ông Hẳng mới hay biết.

Lúc đó, cây gió bầu vẫn đứng trên đỉnh núi, và là “xác” một cây đại thụ lớn đã chết, chỉ còn mỗi hai thân.
Khi nghe được thông tin về việc ở An Giang có một cây gió bầu khổng lồ như vậy, bằng linh cảm của một người “ngậm ngải tìm trầm”, ông Hiệp biết đó là một cây gió bầu có trầm hương lớn nhất từ trước đến nay.
Từ Phú Yên, ông Hiệp lặn lội vào An Giang để tìm hiểu thực hư. Lúc đó, ông bị gãy chân và mới bó bột được hơn hai tháng, phải chống nạng lên tít đỉnh núi, nơi có cây gió bầu.
Khi gặp cây quý, ông Hiệp mất ăn mất ngủ, và quyết tâm mua bằng được. Khi đã ngã giá xong và hoàn tất các thủ tục đối với kiểm lâm huyện Tri Tôn, ông Hiệp thuê 20 thợ khỏe mạnh cùng mình đưa cây hạ sơn.

Mô tả ảnh.
Ông Võ Hiệp đang "khoe" một khúc gỗ trầm với khách tham quan.


Mang được cây gió bầu kích thước lớn từ đỉnh núi cao vài trăm mét xuống mặt đất không dễ, lại làm bằng phương pháp thủ công nên ông Hiệp cùng nhóm thợ đã mất một tháng 20 ngày.

Những khu vực vận chuyển cây từ núi xuống, thiệt hại tới cây cối nào của người dân bản địa, ông Hiệp phải đền bù vài triệu đồng một cây.

Tuy nhiên, theo ông Hiệp, những chi phí như thế chưa đáng là bao so với giá trị của cây gió bầu độc nhất vô nhị mà trong suốt cuộc đời đi tìm trầm, ông mới lần đầu gặp.

Mô tả ảnh.
Những "con mắt" nghệ thuật được ông Hiệp chế tác trên thân cây gió bầu.



Trước đó, ông Hiệp đã gặp nhiều cây gió bầu có trầm hương kích thước lớn, nhưng cây gió bầu hai thân chung gốc đã lên trầm, đây là cây gần như duy nhất ở lãnh thổ Việt Nam. 

Sinh năm 1960, tuy nhiên, ông Hiệp già hơn trước tuổi rất nhiều. Có thể, đó là do những vất vả trong suốt mấy chục năm lặn lội đi tìm trầm, mà ngay từ khi mới là một thanh niên 21 tuổi, ông Hiệp đã lọ mọ khắp các cánh rừng khu vực Nam Trung Bộ để đón gió tìm kỳ nam.

Ở đất Phú Yên, ông Hiệp được mệnh danh là “vua kỳ nam” và “vua đá”, bởi thời gian lăn lộn tìm trầm của ông chiếm gần như hết cuộc đời.
Thời gian trước, trong một lần đi tìm kỳ nam, ông Hiệp đã tìm được một cây trầm quý. Nhờ có nó, ông mới đổi đời, có vốn liếng làm ăn và chuyển hẳn sang sưu tầm, kinh doanh trầm hương.
Đến nay, ông đang sở hữu một số lượng lớn các tác phẩm nghệ thuật làm từ cây gió bầu có chứa trầm hương.
Theo ông Hiệp, trồng cây gió bầu rất dễ và đang phát triển rộng ở các tỉnh miền núi Việt Nam. Tuy nhiên, tỷ lệ cây gió bầu có thể lên trầm rất ít, trăm cây may ra mới có một. Chính vì thế, cây gió bầu hai thân có chứa trầm hương mà ông đang sở hữu, là “hàng độc” có một không hai ở Việt Nam.

Kỳ nam có khác trầm hương?

+ Gần đây tôi nghe báo chí, dư luận xôn xao về việc một số người dân trúng trầm và kỳ nam. Xin hỏi trầm hương và kỳ nam có khác nhau không? Có cách nào để nhận biết đâu là kỳ nam, đâu là trầm hương? (Hoàng Thế Hùng, huyện Xuân Lộc, Đồng Nai)
+ Nhà thực vật học VÕ VĂN CHI (tác giả cuốn sách viết về trầm hương):
- Trầm và kỳ nam đều được hình thành từ lõi của cây gió bầu. Tuy nhiên chúng hoàn toàn khác nhau, kỳ nam thường có giá đắt gấp 10-20 lần so với trầm hương.
Để phân biệt trầm hương và kỳ nam, người ta thường căn cứ vào mùi thơm và dạng kết tinh của dầu, sự hóa nhựa ít hay nhiều để nhận biết. Kỳ nam được tạo thành từ sự biến đổi hoàn toàn các phân tử gỗ, do đó nó thường có màu nâu đậm hoặc đen, gỗ mềm gần giống như sáp ong nhưng khó nhận thấy thớ gỗ, dễ chìm trong nước. Kỳ nam có mùi thơm rất ngào ngạt, dù gói kín nhiều lớp thì vẫn không giấu được mùi thơm.
Vị của kỳ nam gồm đủ chua, cay, ngọt, đắng. Đốt kỳ nam thì khói lên thẳng và cao, lơ lửng lâu trong không khí. Kỳ nam được chia làm bốn loại gồm kỳ bạch: rất hiếm và quí, màu xám nhạt, tinh dầu tích tụ đều khắp thớ gỗ tạo thành khối màu xám, bóng mờ như dầu; kỳ thanh: màu đen nhánh có ánh xanh lục, mùi thơm rất dễ nhận biết; kỳ huỳnh: màu vàng sẫm; kỳ hắc: màu đen bóng như hắc ín, mềm và dẻo hơn ba loại trên.
Trong khi đó trầm hương được tạo thành từ gỗ ít tẩm nhựa hơn, do vậy có mùi ít thơm hơn, gỗ có màu nâu hay sọc (chỉ) nâu đen. Trầm có vị đắng, trọng lượng nhẹ, nổi trên nước được, gỗ trầm có vân đậm nhạt và dợn sóng. Khi đốt trầm cho mùi hương nhẹ, khói trầm kết xoáy, tan nhanh trong không khí.
Trầm hương được phân làm sáu loại chất lượng từ 1 - 6. Loại 1 gọi là “dzách lầu” hàng xịn, giá rất đắt. Loại 6 là hàng xô. Do hình dáng, kích thước, màu sắc, trọng lượng và hương vị mà trầm hương được gọi bằng nhiều tên khác nhau: trầm mắt tử, trầm mắt đảo, trầm bông, trầm da bao, trầm điệp lá, trầm điệp trai, trầm bọ sánh, trầm kiến xanh, trầm kiến lọn. Trầm bới được từ những đống gỗ mục của cây gió chết khô từ lâu gọi là trầm rục.
THU THẢO thực hiện
Việt Báo (Theo_TuoiTre)

Cây trầm hương 160 năm tuổi có hình dáng đặc biệt

Cây dó bầu chứa trầm hương cao 6,8 m, gồm hai thân tượng trưng hai miền Nam Bắc, suốt thân có nhiều nhánh nhỏ phân bố đồng đều, được ví như những giọt nước mắt hạnh phúc của tình anh em trong ngày sum họp.
Cây trầm hương đặc biệt này mang tên "Nam - Bắc một nhà", thuộc sở hữu của người được giới chơi cây cảnh cả nước biết đến với biệt danh "vua kỳ nam" Võ Hiệp, thuộc Hội sinh vật cảnh Phú Yên. Cây trầm hương đã được Ban tổ chức triển lãm sinh vật cảnh 1000 năm Thăng Long chọn trưng bày ở điện Kính Thiên.
“Nam - Bắc một nhà” được Võ Hiệp chế tác từ cây trầm hương khoảng 160 năm tuổi. Điều đặc biệt là cây có hai thân tượng trưng cho hai miền Nam - Bắc. Cao 6,8m, đường kính chỗ rộng nhất ở chạc nhánh đôi là 1,4m, trên suốt chiều dài thân cây có rất nhiều “mắt” (nhánh nhỏ trên thân) tạo thành những giọt nước mà theo chủ nhân thì đó là những giọt nước mắt sắt son của tình anh em trong ngày sum họp.
Để có được cây trầm hương quý này, "vua kỳ nam" Võ Hiệp đã ấp ủ ý tưởng và tìm kiếm suốt 3 năm ròng rã trên khắp những cánh rừng già khắp đất nước. Anh Hiệp kể: “Tôi lấy ý tưởng ngày thống nhất 30/4/1975 Bắc - Nam sum họp, quyết tâm đi tìm cho được cây trầm hương có hai thân. Tìm cây dó bầu có hai thân đã khó, mà cây có trầm hương càng khó hơn. Năm 2010, thật may mắn trong một lần “ngậm ngải đi tìm lộc bà cậu” tôi đã gặp cây dó bầu hai thân có trầm hương ở khu núi tỉnh Tây Ninh giáp giới Campuchia”.
Theo anh Hiệp, chưa tính giá trị nghệ thuật của tác phẩm “Nam - Bắc một nhà”, chỉ tính riêng trầm hương trong thân cây cũng có lên đến tiền tỷ.
Cây trầm hương hai thân với những "giọt nước mắt" kỳ lạ. Ảnh: Thiên Lý
Cùng được trưng bày tại điện Kính Thiên với "lão" trầm hương còn có một nhánh rễ gỗ hương nguyên khối dài đến 4 m, được chế tác thành một con rồng đang bay nên được đặt tên là "Đằng vân". Đây cũng là tác phẩm thuộc Hội sinh vật cảnh Phú Yên.
Từ 3 tháng trước ngày Đại lễ, hàng chục nghệ nhân Công ty Sơn Phước ở Phú Yên tất bật làm việc để chế tác “Đằng vân” từ nhánh rễ gỗ hương nguyên khối. Chủ nhân của tác phẩm này, anh Nguyễn Thái Sơn cho biết, ý tưởng đã được anh ấp ủ từ một năm trước.
“Lấy ý tưởng từ tích “giấc mơ có rồng bay” của vua Lý Công Uẩn, chúng tôi phác thảo và tìm gốc gỗ hương dáng rồng để chế tác. Không ngờ tác phẩm khi giới thiệu với Ban tổ chức triển lãm sinh vật cảnh 1.000 năm Thăng Long đã được chọn trưng bày ở vị trí đặc biệt là điện Kính Thiên”, anh Sơn phấn khởi nói.
Điểm đặc biệt tạo nên giá trị “Đằng vân” là ở giá trị nhánh rễ lũa gỗ hương nguyên khối và có hình hài giống như con rồng đang bay với nhiều đoạn thân uốn khúc. Những đoạn cong ấy bị lũa vào, tạo nên màu sắc, hình hài độc đáo pha lẫn vẻ cổ kính, huyền bí. Đầu rồng rất ấn tượng với hai chiếc râu dài, mũi to, miệng trong tư thế mở tạo sự uy nghi, quyền lực đế vương. Phần đuôi uốn cong, vút nhẹ tạo nên sự thanh thoát. Màu sắc của rồng tự nhiên theo màu gỗ hương, xen kẽ đỏ, nâu thẫm, vàng sậm trên suốt thân mình.
Rồng bay lên. Ảnh: Thiên Lý
Toát lên từ tác phẩm này chính là thần thái của con rồng. Những nét chạm khắc của các bàn tay nghệ nhân rất tinh xảo từ đường vân nhỏ trên mi mắt đến lớp vẩy trên thân mình tạo cảm giác vừa uy nghi nhưng rất thanh thoát như con rồng đang bay thật.
Nghệ nhân Nguyễn Thái Sơn còn ra mắt công chúng Hà Nội và cả nước nhiều tác phẩm gỗ lũa, gỗ hóa thạch đặc biệt khác, nhân dịp Đại lễ. Đó là bức tranh lũa gỗ hương nguyên khối cao 1,8 m, bề mặt rộng 1,3 m mang tên “Dời đô”. Bức “Dời đô” mô phỏng lại sự kiện dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La của vua Lý Công Uẩn năm 1010. Hình ảnh vua Lý Công Uẩn trong áo bào uy nghi đưa tay chỉ về thành Đại La, mảnh đất có thế “rồng cuộn, hổ ngồi”, sau lưng là Hoa Lư cổ kính. Bức tranh cũng không quên một nhân vật luôn ở bên cạnh vua Lý trong những sự kiện trọng đại của đất nước là sư Vạn Hạnh. Phía mặt sau của bức tranh là phần lũa của khối gỗ do sự bào mòn tự nhiên, đây cũng là một điểm độc đáo, tăng thêm phần giá trị cho bức tranh.
Ông Đỗ Phượng, Chủ tịch Trung ương Hội Sinh vật cảnh Việt Nam, trong chuyến vào Phú Yên khảo sát chuẩn bị cho triển lãm, nhận xét: “Đây là những công trình vừa mang tư duy lịch sử, vừa chứa đựng tình cảm, tâm huyết với 1000 năm Thăng Long, lại hội tụ tài hoa của những nghệ nhân có con mắt tinh đời và bàn tay khéo léo”.
Thiên Lý

Bà chúa Trầm hương

Bà chúa Trầm hương

 Do được thiên nhiên ưu đãi nên vùng đất thuộc tỉnh Khánh Hoà có nhiều lâm sản quý, nhất là các thứ gỗ như gỗ trắc, sao, huỳnh đàn, giáng hương, gỗ mun.…Thế nhưng, đặc biệt nhất là trong các khu rừng Khánh Hoà có cây Trầm Hương, một loại lâm sản quý vào bậc nhất.
Trầm Hương có nhiều ở rừng Việt Nam, nhưng chỉ có Trầm Hương ở rừng núi Khánh Hoà thì không đâu bì kịp. Vì thế trong dân gian mới có câu:
“ Khánh Hoà là xứ Trầm Hương.
Non cao biển rộng người thương đi về.”
Và, không chỉ trong ca dao, các sử liệu cổ của Việt Namcũng đã nhắc tới Trầm Hương của vùng đất Khánh Hoà xưa. Lê Quý Đôn (1726 – 1784) trong Phủ biên tạp lục (viết năm 1776) đã có những dòng viết và đánh giá về các nguồn Trầm Hương. Ngay ở những dòng đầu, ông đã khẳng định: “Kỳ nam hương xuất tự đầu núi các xã thuộc 2 phủ Bình Khang và Diên Khánh xứ Quảng Nam là thứ tốt nhất; xuất tự Phú Yên và Quy Nhơn là thứ hai. Hương áy là do ruột của cây dó kết thành.
Tiếp theo những dòng trên, Lê Quý Đôn còn cho chúng ta biết cách phân biệt những giá trị của trầm hương và kỳ nam: “Trầm hương thì cứng, nặng, ít thơm, sắc nhạt, vị đắng; kỳ nam thì mềm, nhẹ, có hơi dầu, thơm mát, vị gồm đủ cay, chua, ngọt, đắng; đốt trầm hương thì khói hết xoáy rồi sau mới tan, đốt kỳ nam thì hơi khói lên thẳng mà dài…”
Mà, cả hai phủ Bình Khang và Diên Khánh đều là đất của tỉnh Khánh Hoà ngày nay. Về sự hình thành hai phủ này, sách Đại Nam nhất thống chí của Quôc sử quán triều Nguyễn chép: “Bản triều, năm Quý Tị thứ 5 đời Thái Tông (Nguyễn Phúc Tần – 1675), vua Chiêm Thành là Bà Bật lấn biên giới, bản triều sai Cai cơ Hùng Lộc hầu đi đánh. Người Chiêm hàng, do đấy chiếm lấy đất từ sông Phan Rang trở về phía đông đến địa giới Phú Yên, đặt hai phủ (Thái Khang và Diên Ninh)…Năm Canh Ngọ thứ 3 (1690) đời Anh Tông, đổi phủ Thái Khang làm phủ Bình Khang; Năm Nhâm Tuất thứ 4 (1742) đời Thế Tông, đổi phủ Diên Ninh làm phủ Diên Khánh…”. Phủ Bình Khang khi đó gồm 2 huyện là Quảng Phúc và Tân Định; còn phủ Diên Khánh thì có 3 huyện là Phúc Điền, Vĩnh Xương và Hoa Châu.
Tỉnh Khánh Hoà được đặt năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) nhưng chỉ đến năm Thành Thái thứ 13 (1901) mới có địa giới tương đương hai phủ Bình Khang và Diên Khánh trước đó, tức gồm hai phủ là Diên Khánh (tên không đổi) với hai huyện Phúc Điền, Vĩnh Xương và phủ Ninh Hoà (Bình Khang xưa) với hai huyện Quảng Phúc và Tân Định.
Không chỉ được ghi nhận một cách trân trọng trong các sử liệu, cây trầm hương còn được các vua triều Nguyễn khắc lên cửu đỉnh (được đúc từ cuối năm 1835 đến đầu năm 1837 thì hoàn thành) đặt trước sân nhà Thế Miếu trong Hoàng Thành. Trầm hương được khắc trên Cao Đỉnh (Cao là miếu hiệu của vua Gia Long), còn kỳ nam được khắc trên nhân đỉnh (Nhân là miếu hiệu của vua Minh Mạng) với dòng ghi chú: cây ở vùng rừng Khánh Hoà, ruột lõi rất thơm.
Như vậy là, kể từ khi vào khai thác vùng đất Khánh Hoà, người Việt đã biết khai thác và sử dụng trầm hương. Rồi thì, không biết tự bao giờ (chắc cũng đã từ lâu), Khánh Hoà được nổi danh là “Xứ Trầm Hương”. Thế nhưng trước đó, “Xứ Trầm Hương” thuộc đất của Chiêm Thành. Vậy người Chiêm Thành xưa kia đã biết đến và đã  khai thác trầm hương chưa?
Rất may là các sử liệu cổ của  Trung Quốc đã cho chúng ta biết khá rõ về nhiều phương vật của nước Chiêm Thành xưa, trong đó có trầm hương. Ví dụ, khi viết về nước Lâm Ấp vào đầu thế kỷ VII, Lương thư (quyển 54), Liệt truyện (quyển 48), Chư Di - Hải Nam có đoạn nói về một quốc gia có tên là Tây Quốc Di: “Lâm Ấp vốn là huyện Tượng Lâm, quận Nhật Nam đời Hán…Biên giới phía nam đi đường thuỷ bộ hơn 200 dặm có Tây Quốc Di cũng xưng Vương…Nước đó có núi vàng…Lại sản xuất đồi mồi, vỏ bối, ngà voi, cát bối, hương gỗ trầm…Gỗ trầm, thổ nhân đẵn ra, để cất hàng năm, mục nát nhưng lõi ruột vẫn còn, bỏ vào nước thì chìm, nên gọi là trầm hương, thứ nữa là loại không chìm không nổi gọi là sạn hương….mà, Tây Đồ Di sau này trở thành đất Chiêm Thành, chính là vùng đất Khánh Hoà ngày nay. Về điều này, Đại Nam nhất thống chí, khi viết về lích sử của tỉnh Khánh Hoà, có nhắc tới việc vùng đất vốn là “Khiếu ngoại quốc” này (hay Tây Đồ Di) “sau bị Chiêm Thành gồm chiếm, sau là đất Chiêm Thành”.
Các sử liệu cổ của Tung Quốc còn cho biết, ngay từ thế kỷ III sau công nguyên, trầm hương của Chămpa đã đựoc người Trung quốc biết đến và luôn được ghi chép là cống vật của người Chămpa. Về sau này, sau thế kỷ X, người Hồi giáo và người phương tây cũng hay nhắc tới trầm hương của Chămpa. Ví dụ, Tome Pires viết: “Trong các mặt hàng của Chămpa, quan trọng nhất là kalambak. Dây là loại trầm hương thực sự, là loại trầm hương tốt nhất trong các loại trầm….Loại Kalambak chất lượng tốt nhất là ở Chămpa…”
Thậm chí đến đầu thế kỷ XVII, dựa vào các nguồn tài liệu Trung Quốc trước đó, Zhang Xie đã làm một bảng danh sách những sản vật của Chămpa gồm: “Vàng, bạc, thiếc, sắt, ngọc trai, hổ phách, sừng tê, ngà voi, mai rùa, trầm hương, gỗ đàn hương, long não, xạ hương, đinh hương, trầm, gỗ mun, tổ yến, gạo, hạt tiêu, cau, dừa, mít, nhục đậu khấu, tê giác, sư tử, voi, vượn, khỉ trắng, voi trắng, vải bông trắng, chiếu lá cọ, sáp ong vàng, lưu huỳnh, gỗ vang…”
Không chỉ người Chămpa mà sử sách còn cho biết người Việt thời xưa cũng dùng trầm hương buôn bán với người Trung Quốc. Thế nhưng, cũng các sử liệu trên cho biết, trầm hương mà người Việt có được là từ Chămpa. Ví dụ, khi chép về việc giao thương buôn bán giữa các thương nhân Trung Quốc thời nhà Tống, sách Lĩnh Ngoại đại đáp cho biết hàng của Giao Chỉ đến Khâm Châu đem bán có bạc, đồng, trầm hương, quang hương, ngà voi, sừng tê…Cũng sách trên chép, trầm hương của Giao Chỉ bán sang Trung Quốc đều là trầm của Chiêm Thành. Dựa vào các nguồn sử liệu khác nhau, các nhà nghiên cứu cho rằng, vào thời Lý, Đại Việt đã buôn trầm của Chiêm Thành rồi bán sang Trung Quốc.
Không chỉ thời xưa , mà vào thời cận và hiện đại, nhiều nơi trên thế giới như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và các nước Châu âu đã biết đến và có những đánh giá rất cao về các loại trầm hương có nguồn gốc từ Việt Nam. Trong nhiều sách của nứoc ngoài, trầm hương Việt Nam đựoc xem là tốt nhất. Thậm chí, vị giáo sĩ Đắc Lộ (Alexander de Rhodes) còn nhấn mạnh rằng “chỉ Việt Nam mới có kỳ nam”. Gần đây, vào năm 2003, tại cuộc hội thảo quốc tế về trầm hương ở Việt Nam, các nhà khoa học đã đưa ra lời khẳng định: “Trầm hương của Việt Nam là tốt nhất, được mua với giá cao nhất, sản lượng trầm trên thế giới bị phụ thuộc vào Việt Nam và Việt Nam được xem không chỉ là vương quốc của trầm hương trong quá khứ mà còn là nguồn trông cậy của thế giới hiện nay và trong tương lai, bởi trầm là loại dược liệu và cả hương liệu thặng hạng không có gì thay thế”.
Người Việt từ xưa đã hiểu rất rõ những giá trị về dược của trầm hương (tức trầm và kỳ): trầm dùng để giáng khí, kỳ dùng trị các chứng phong đàm. Trầm và kỳ còn đuổi được khí tà độc, khí ô uế. Trầm thì đốt lên còn kỳ thì chỉ cần đeo vào mình là đủ. Ngoài làm dược liệu, trầm hương còn được dùng vào nhiều việc khác nữa như lấy bặp trầm hương chạm tỉa thành hình tháp, hình non bộ, tượng Phật, tượng bà Thiên Y…; dùng làm gối và dùng để đốt lên vào những dịp cúng tế.
Vì những giá trị dược liệu quý hiếm, nên kỳ nam thường rất đắt. Do vậy, để đánh giá các hạng kỳ nam khác nhau, dân gian đã đúc kết thanh kinh nghiệm: “nhất bạch, nhì thanh, tam huỳnh, tứ hắc”. Còn trầm thì được phân thành 4 loại: trầm mắt kiến có lỗ, có hang do kiến đục làm tổ trước khi cây thành trầm; trầm rễ do rễ cây sinh ra; trầm mắt tử kết tạo trên nhánh cây và cuối cùng là trầm tốc ở trên thân cây (loại trầm có nhiều nhất và phổ biến nhất trên thị trường). Ngoài ra, người ta con có thể phân biết kỳ tốt hay kỳ xấu bằng những cảm nhận sau: loại nào nhuyễn mịn và có nhiều chất dầu là tốt nhất, còn loại nào rắn chắc là xấu. Người ta còn có cách nữa để nhận biết kỳ xấu và tốt là gói kỳ trong lá chuối thật kín, đem phơi nắng, đến tối đem vào, nếu có nhiều chất dầu chảy ra là thứ tốt.
Không chỉ biết phân biệt giá trị của các loại trầm hương, người Việt vùng Khánh Hoà còn rất có kinh nghiệm  về những điều kiêng kỵ khi đi lấy trầm. Do đi nhiều và sử dụng nhiều để buôn bán và để dùng, người dân Khánh Hoà biết trầm ở đâu trong tỉnh mình là tốt nhất. Tri thức dân gian đó đã được đúc kết vào câu ca dao: “Cây quế Thiên Thai mọc ngoài khe đá, trầm nơi Vạn Giã hương toả sơn lâm…”
Vì đi lấy trầm là phải đi lâu ngày và phải vào rừng sâu, núi thẳm nên người đi tìm trầm, ngoài lương thực còn phải mang theo loại thuốc đặc biệt chống khí độc rừng núi, trị các bệnh hiểm nghèo, phòng rắn rết…được gọi là ngải do các ông “thầy mo” miền thượng (Tây Nguyên) bán cho. Khi đi vào rừng tìm trầm , người đi điệu phải ngậm ngải vào miệng. Vì thế mới có câu “ngậm ngải tìm trầm”. Rồi thì, theo tương truyền, trước khi đi tìm trầm, người đi điệu phải xem được ngày tốt mới xuất hành, phải ăn chay ba ngày trước và phải sắm lễ vật vào rừng dâng lễ cầu khấn Ba Thiên Y A Na là vị chúa tể các khu rừng Khánh Hoà (xứ Kauthadra của Chiêm Thành) đồng thời cũng chính là hiện thân của cây trầm để cầu xin Bà cho được thành công…
Như vậy là, các tài liệu lịch sử của Trung Quốc, Việt Nam… đã cho biết, Vương quốc Chămpa xưa là nơi có nhiều trầm hương và trầm hương của Chămpa đã nổi tiếng trên thị trường quốc tế từ rất sớm. Sử liệu còn cho biết về một nơi cụ thể có trầm hương vào loại tốt nhất của Chămpa là vùng đất Khánh Hoà xưa. Không chỉ để buôn bán, để làm thuốc, và để làm phương vật triều cống, trầm hương còn được người Chămpa xưa và người Chămpa hiện nay sử dụng nhiều trong các lễ thức cúng thần.
Các bia ký cổ của Chămpa ở khu vực đền Pô Nagar (Tháp bà ở Nha Trang) không ít lần nói đến việc các vị vua dâng cúng các đồ vật quý cho các thần. Và trong các đồ vật quý đó, thường hay có các bình bằng vàng để đốt trầm hương. Ví dụ trong bài bia ký của vua Rudravaman III, khắc năm 972 saka (1050), có nói tới một trong những đồ vật yêu quý mà nhà vua dâng cúng cho ngôi đền là một chiếc bình bằng vàng để đốt trầm. Còn ngày nay, trong các lễ thức cúng thần của người Chăm, trầm luôn được dùng để đốt lên cầu các thần xuống nhận lễ. Trong các lễ cúng thần, trầm trì được đốt lên, còn các chủ lễ thì vừa đánh nhạc vừa khấn cầu các thần về.
Chắc chắn là người Việt ở Khánh Hoà đã tiếp thu nhiều điều từ người Chămpa trong việc sử dụng và khai thác trầm hương. Và, không còn nghi ngờ gì, như các tư liệu tín ngưỡng dân gian của người Chăm và người Việt mà chúng tôi sẽ dẫn ra dưới đây để chứng minh, Pô Inư Nưgar của người Chăm (mà người Việt gọi là Thiên Y A Na) không chỉ là nữ thần sinh ra cây trầm hương, loại cây hương liệu nổi tiếng trên thế giới của Chămpa ngày xưa và của Việt Nam ngày nay. Thế nhưng, vấn đề mà chúng tôi quan tâm là vì sao và khi nào cây trầm hương lại trở thành một “tạo vật” và một “hoá thân” của thần mẫu Pô Nagar?
Rất tiếc là các tài liệu bia ký ở khu đền Pô Nagar chỉ cho biết Pô Inư Nagar là nữ thần mẹ của xứ Kauthara (nay là tỉnh Khánh Hoà) chứ không nói gì tới việc nữ thần là mẹ của cây trầm hương. Sau này khi tiếp nhận vị thần này của người Chăm để tiếp tục thờ phụng, người Việt-vẫn theo tinh thần của người Chăm- gọi Pô Inư Nagar là Thiên Y Thánh Mẫu Thiên Y A Na. Thế nhưng, trong các bài cúng mà các ông thầy người Chăm thường tụng trong các dịp cúng lễ thần hiện nay, nữ thần Pô Nagar hiện lên không chỉ là Thần Mẫu tạo lập ra xứ sở và vạn vật mà còn là thần Mẹ của cây trầm hương.
Ngay từ đầu thế kỷ XX, ông Cabaton đã sưu tầm được bài cúng nữ thần có nội dung như sau: “Ngày xưa, thần Inư Nưgar sinh ra đất, gỗ trầm, lúa gạo. Gỗ trầm, gỗ kỳ nam từ Yan Inư Nưgar mà phát hương thơm toả ra. Không gian bao quanh, từ Yan Inư Nagar, nức hương thơm của lúa…”. Rồi thì sự gắn kết giữa nữ thần với cây trầm còn được thể hiện trong các truyền thuyết về Pô Nagar hay Thiên Y A Na của người Chăm và người Việt thông qua các chi tiết nữ thần nhập thân vào cây trầm rồi từ cây trầm hiện thân ra.
Không chỉ trong các thư tịch cổ hay trong các bài cúng mà trên thực tế, người Việt ở Khánh Hoà, nhất là những người đi tìm trầm cho đến hôm nay vẫn tin rằng trầm hương (kỳ và trầm) là của bà Thiên Y A Na. Ngoài ra, những người đi tìm trầm còn truyền rằng Bà có 4 cây trầm hương kỳ cựu trấn ở 4 phương trong vùng đất Khánh Hoà: Một ở Đồng Bò trấn phía Nam; một ở Hòn Bà (Ninh Hoà) trấn phía Bắc; một ở Hòn Dữ (huyện Diên Khánh) trấn phía đông. Những cây trầm này, theo dân gian truyền tụng, không còn lá, không còn giác, mưa nắng không thể làm hư mục được và có chim muông, cọp rắn canh giữ không cho ai lấy.
Những người đi điệu tin rằng, vì trầm hương là của Bà Thiên Y A Na, nên Bà cho ai thì người ấy được; còn nếu Bà không cho thì dù người đó có đứng bên cây trầm cũng không tìm thấy. Bởi vậy, trước khi đi tìm trầm, người đi điệu phải dâng lễ cúng Bà.
Rồi thì, một số danh thắng nổi tiếng của tinh Khánh Hoà cũng có những gắn kết với thần mẫu trầm hương Thiên Y A Na. Ví dụ, Hòn Bà nằm ở phía tây anm huyện lỵ Ninh Hoà, nơi có nhiều trầm hương, là núi mà dân địa phương coi là của Bà Thiên Y A Na nên gọi la núi Bà. Trên núi có miếu thờ. Dân đi tìm trầm, trước khi vào rừng đều phải đến miếu cầu khấn để xin Bà ban phước được gặp trầm.
Nằm sát Ninh Hoà và Diên Khánh, có núi Hòn Dữ. Vì là núi của Bà Thiên Y, nên rừng Hòn Dữ có rât nhiều trầm hương. Tại suối Đổ (trong địa phận làng Phước Trạch, vùng phía tây dãy núi Hoàng Ngưu) có những truyền thuyết nói đây là nơi mà Bà Thiên Y hay đến ngồi hóng mát và là nơi có cây trầm hương to đến 4 người ôm và dài đến hơn 10 thước, thường toả hương trầm ngan ngát khắp nơi. Tại đây, ở nơi hồ thấp nhất trong ba hhồ, có đền thờ Bà Thiên Y.
Suối Cát thuộc địa phận huyện Ninh Hoà cũng được tương truyền là nơi Bà Thiên Y hay đến ngồi hóng mát. Xung quanh nơi đây có rât nhiều cây dó (giống cây sinh ra trầm hương) và có rất nhiều cọp. Mà, theo dân gian truyền lại, trong số cọp này có những người ngậm ngải tìm trầm lâu ngày không về được phải hoá thành cọp sau khi ngải tan hết. Một địa danh nữa có tên là Suối Ngổ ở phía đông bắc Diên Khánh cũng là nơi được coi là vùng lãnh thổ của Bà Thiên Y A Na vì ở đó có nhiều cây dó sinh trầm hương.
Như vậy là, các nguồn tư liệu khác nhau từ xưa tới giờ đều khẳng định, vùng đất Khánh Hoà do được thiên nhiên ưu đãi đã sản sinh ra một trong những loại lâm sản quý độc nhất vô nhị trên thế giới: kỳ nam. Chính trầm hương (chủ yếu là kỳ nam) có xuất xứ từ vùng đất Khánh Hoà của Chiêm Thành xưa kia và người Việt sau này, từ những thế kỷ đầu công nguyên cho đến nay, luôn có tiếng trên thế giới và luôn được thị trường quốc tế ưa chuộng. Và, xét về mặt tín ngưỡng dân gian, cây trầm hương được người Chiêm xưa và người Việt sau đấy đều coi là do nữ thần Mẹ Pô Inư Nưgar hay Thiên Y A Na của xứ Kauthadra sinh ra. Thế nhưng vì sao nữ thần Mẹ Pô Nagar lại có một hoá thân là thánh mẫu của cây trầm hương?
Tất nhiên, đã là nữ thần mẹ thì Pô Nagar hẳn sẽ phải là người sáng tạo ra vạn vật rồi. Nhưng, vấn đề lý thú và cũng rất đặc biệt ở đây là việc nữ thần Pô Nagar lại là thần mẹ của cây trầm hương và ngược lại, cây trầm hương lại luôn là đối tượng để nữ thần hoá thân vào. Rồi thì, ngoài là đấng sáng tạo, trong trường hợp với cây trầm hương, nữ thần Pô Nagar đồng thời còn là một “anh hùng văn hoá”- người bảo hộ cho cây trầm hương và nghề tìm trầm. Và, theo chỗ chúng tôi được biết, ở Việt Nam (cũng có thể ở cả khu vực Đông Nam Á?) không có một hình thức kết hợp nào vừa rất cụ thể vừa rất hoàn hảo (cả về lý tưởng và hình ảnh) giữa nữ thần mẹ với cây như trường hợp của nữ thần Pô Nagar và cây trầm hương. Theo nghiên cứu của chúng tôi, hiện tượng đặc biệt này phần nào được nảy sinh ra từ chính một loại cây cũng rất đặc biệt là cây trầm hương.
Trước hết, phải nói rằng trầm hương là do cây dó sinh ra. Thế nhưng, không phải giống cây dó nào cũng sinh ra trầm hưong. Rồi thì cách tạo trầm hương của các cây dó cũng rất đặc biệt. Dân gian truyền rằng, hương trời bay theo gió đáp vào thân cây, ban đầu dính ngoài vỏ rồi ăn dần vào thịt cây. Lâu ngày, thịt cây thấm hương trời biến thành trầm hương. Dân gian cũng cho rằng cây dó sinh ra trầm là vì thân cây hoặc rễ cây bị thương tích. Khi cây bị thương, chất dầu trong cây tụ lại để chống lại sự phá hoại của vết thương. Khi vết thương lành rồi, chất dầu đọng lậi đó dần dần biến tính và thành trầm. Những cây dó có trầm thường bị xơ xác và thân có u, có nầng. Nhiều cây nổi phồng ra như “ruột chửa” hoặc như bắp chuối. Đó là nói theo dân gian. Còn theo khoa học thì sao?
Khoa học đã khẳng định, như trong dân gian nhận thức, trầm hương và kỳ nam là phần gỗ chứa nhiều nhựa thơm sinh ra từ thân cây dó mọc nhiều trong những cánh rừng già của Việt Nam. Những cây dó có thể sống lâu và phát triển to lớn thành cổ thụ. Cây dó có 2 loại: dó bầu (tên khoa học là Aquilaria crassna) và dó gách hay còn gọi là dó niệt ( Aquilaria malaccéní). Dó gạch cũng cho trầm nhưng mùi thơm nồng, hắc, có vị tanh và giá trị thấp. Chỉ có dó bầu mới cho trầm tốt và kỳ nam.
Cây dó bầu cao từ 10 – 40m, vỏ xám, thân thẳng ít nhánh. Dó bầu là loại cây ưa ẩm, chịu bóng râm, thường phân bổ ở độ cao từ 300 -600m so với mặt biển. Thế nhưng không phải bất kỳ cây dó nào cũng tạo thành trầm hương. Về nguyên lý, như dân gian đã đúc rút, để cây dó tạo thành trầm hương phải có 2 yếu tố. Một là cây bị chấn thưong cơ giới mạnh, như bị các vật cứng găm vào hay chặt sâu vào thân cây, những lỗ hổng lớn do sâu bệnh đục khoét, những chỗ gẫy cành, gẫy ngọn…Hai là, tại những nơi chấn thương ấy, sau một thời gian dài từ 10 -15 năm, dưới tác động mỗi ngày một ít của những chỉ tiêu sinh thái đặc biệt, những bào tử sẵn có nằm trong không gian môi trường tác động vào vết thương gây ra phản ứng hoá học bên trong cây đó và từ đó tạo thành trầm hương (tuỳ theo mức độ tác động mà có trầm tốt hay xấu)
Người xưa đã biết ít nhiều về quá trình cây dó biến thành trầm nên những khi đi điệu, gặp những cây dó bầu chưa ăn trầm, họ thưòng chém vào rễ, thân hoặc nhánh cây với hi vọng sau đó cây sẽ được tạo trầm. Ngay từ thế kỷ XVIII, dựa vào các sách vở ghi chép của tiền nhân, Lê Quý Đôn đã viết về cây trầm hương như sau: “Trầm hương cây giống như cây thông cây gạo, có nhiều mắt, lấy thì trước chém gốc cây, để lâu năm vỏ và thân đều nát, ruột và mắt không nát là trầm hương.”
Qua những ghi chép xưa, những tri thức dân gian và những cứ liệu khoa học, có thể dễ dàng nhận thấy những nét đặc trưng ít nhiều mang tính “thần kỳ” của cây trầm hương. Trứơc hết, cây chủ tạo nên cây trầm hương là một loại cây cổ thụ lâu năm như cây thông cây gạo, có nhiều mắt và mọc trong rừng già. Thế nhưng, để thành cây trầm hương, cây dó phải bị chấn thương cơ giới để “hương trời” đáp vào rồi ăn dần vào thịt. Thế rồi, theo thời gian, chất nhựa của cây biến chế và di chuyển  “hương trời” đi nhiều nơi, lâu ngày thịt cây thấm hương thành trầm. Khi đã thành trầm hươngẩồi thì thân cây dó có u có nấng, thậm chí nổi phồng ra như “ruột chửa” hoặc như bắp chuối.
Theo suy nghĩ của chúng tôi, có lẽ khó tìm thấy trong kho tàng thần thoại của thế giới một hình ảnh mang tính biểu tượng nào hoàn hảo đựơc như cây trầm hương để diễn tả và mô tả ý tưởng về tính phồn thực của thần Mẹ sáng tạo. Có thể thấy ở cây trầm hương sự trường tồn cùng sức mạnh và chu trình sáng tạo mang tính phồn thực của cây sự sống (một biến thể thường hay gắn với hình ảnh của cây vũ trụ) phổ biến trong thần thoại của nhiều dân tộc trên thế giới.
Rồi thì, không chỉ mang trong mình những hình tưọng khá hiện thực về sự trường tồn (cây cổ thụ) vì chu trình sinh sản (cây= âm kết hớp với hương trời = dương thông qua một “cơ quan sinh sản” (vết thương cơ giới của cây), hương khói trầm hương cò là phương tiện để người trần giao thông với thế giới thần linh.
Do vậy, với tất cả những phẩm chất và những hình tưọng “thần kỳ” vốn có của mình, cây trầm hương dễ và rất xứng đáng được cư dân của “xứ trầm hương” chọn làm biểu tượng của “cây sự sống” trong đời sống tâm linh của mình.
Chính vì thế mà không phải ngẫu nhiên, nơi phát tích của nữ thần Pô Nagar – nơi duy nhât của Việt Nam và của cả thế giới có trầm hương, đặc biệt là kỳ nam - lại được mệnh danh và nổi tiếng của xứ trầm hương. Còn nữ thần Mẹ xứ sở của nơi này lại được coi là thần Mẫu của cây trầm hương, và ngược lại, cây trầm hương cúng coi như hiện thân của nữ thần Mẹ.
Như nhiều thần thoại và nhiều tôn giáo sơ khai khác trên thế giới, sự chuyển hoá của cây trầm hương thành “ cây sự sống: trong đời sống văn hoá của cư dân xứ trầm hương Khánh Hoà là điều tất yếu và hợp quy luật. Hình tượng nổi bật và dễ thấy nhất của “cây sự sống” trong thần thoại của nhiều dân tộc trên thế giới là hình tượng được lấy từ trong thế giới thực vật, mà cụ thể là trong số những cây có cuộc sống trường thọ hơn con người.
Các cây thường đựoc dùng làm hình tượng cho “cây sự sống” là các giống cây sống lâu thành cổ thụ như sồi, tuyết tùng, diệp tùng, bá hương, liễu, bồ đề…Và, theo quan niệm của dân gian, trong các cây này, thường là trong lõi, có ẩn dấu sự sống bất tử. Rồi thì, “cây sự sống” đựơc dùng để thể hiện hình tượng cho một nhân vật nữ (mẹ), hay tinhý nữ (cơ quan sinh sản) - nguồn gốc tạo ra sự sống.
Ngoài ra, trong nhiều thần thoại khác nhau trên thế giới, “cây sự sống” đựơc gắn kết chặt chẽ với một nữ thần tạo ra sự sống…Đến đây, vấn đè còn lại là khi nào cây trầm hương trở thành “ cây sự sống” và khi nào thì “cây sự sống” trầm hương này được nhập vào thần Mẹ xứ sở Pô Nagar?
Chắc hẳn, xét về lý thuyết, cây sự sống phải xuất hiện từ rất sớm trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của cư dân bản địa ở Khánh Hoà. Thế rồi, khi Sharkti hay Devi của Bàlamôn giáo trở thành thần mẹ của xứ Kauthadra, thì cây trầm hương đã hoà kết vào với hình tượng nữ thần Pô Nagar. Theo chúng tôi, quá trình hoà kết này diễn ra rất đúng quy luật của tư duy thần thoại và tôn giáo sơ khai phổ biến trên thế giới mà nhiều dân tộc đã trải qua.
Như vậy là, với những ưu đãi đặc biệt của thiên nhiên, vùng đất tỉnh Khánh Hoà đã góp cho nhân loại một loại cây hương liệu đặc biệt: cây trầm hương cùng một hình ảnh biểu tượng huyền thoại thật đẹp và cũng thật đặc biệt: cây sự sống của thần Mẹ xư sở Pô Nagar (Thiên Y A Na). Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà từ xưa đến nay, Khánh Hoà được nổi danh là “xứ trầm hương” và nữ thần Pô Nagar, nữ thần Mẹ xứ sở còn đựoc gọi là thần Mẫu trầm hương.